Luật Định danh và xác thực điện tử góp phần xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, an toàn trên môi trường số

Dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử quy định cụ thể về đối tượng, mô hình và mức độ xác thực điện tử; giá trị sử dụng của danh tính điện tử và kết quả xác thực điện tử; điều kiện cung cấp dịch vụ định danh, xác thực điện tử; nguyên tắc công nhận lẫn nhau đối với danh tính điện tử, kết quả xác thực của nước ngoài. Đồng thời, dự thảo Luật đề xuất các chính sách khuyến khích, ưu đãi nhằm thúc đẩy phát triển hạ tầng, công nghệ và nguồn nhân lực trong lĩnh vực định danh, xác thực điện tử, đáp ứng yêu cầu phát triển các hoạt động trên môi trường số.

27/10/2026

00:00
Nữ Miền Bắc

Quy định cụ thể về đối tượng, mô hình và mức độ xác thực điện tử

Điều 21 dự thảo Luật quy định mọi đối tượng đã được tạo lập danh tính điện tử và cấp mã định danh theo quy định của Luật đều là đối tượng xác thực điện tử. Quy định này phù hợp với phạm vi đối tượng định danh tại Điều 7, bao gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân; sản phẩm, hàng hóa, tài sản và đối tượng vật chất khác; đối tượng phi vật chất; sự kiện, giao dịch, hành vi; địa điểm và không gian.

Việc xác định đối tượng xác thực gắn với đối tượng đã được định danh bảo đảm sự liên tục giữa quá trình tạo lập và sử dụng danh tính điện tử. Thông tin được thu thập, kiểm tra, chuẩn hóa trong hoạt động định danh là cơ sở cho quá trình kiểm chứng khi đối tượng tham gia giao dịch hoặc tồn tại tại thời điểm, địa điểm, không gian xác định. Theo đó, việc cấp mã định danh và tạo lập danh tính điện tử được gắn với giá trị sử dụng thực tế trong quản lý nhà nước và các hoạt động kinh tế - xã hội.

dinh danh 1.jpg

Về mô hình xác thực điện tử, khoản 2 Điều 22 dự thảo Luật quy định 03 mô hình xác thực điện tử, gồm mô hình xác thực tập trung, mô hình xác thực trung gian và mô hình xác thực độc lập.

Việc quy định đa dạng mô hình xác thực điện tử phù hợp với đặc điểm của các hệ thống, phương thức cung cấp dịch vụ và nhu cầu của người sử dụng; tạo điều kiện ứng dụng công nghệ, đồng thời duy trì các yêu cầu chung về độ tin cậy, an toàn và trách nhiệm pháp lý. Các quy định về mô hình, phương tiện, trách nhiệm kiểm tra và ghi nhận kết quả tạo cơ sở phát triển dịch vụ linh hoạt, đồng thời bảo đảm yêu cầu thống nhất về an toàn, độ tin cậy và trách nhiệm pháp lý.

Về mức độ xác thực điện tử, dự thảo Luật quy định 03 mức độ xác thực trên cơ sở loại, số lượng yếu tố và phương thức xác thực. Theo đó, mức độ 1 sử dụng một yếu tố xác thực; mức độ 2 sử dụng hai yếu tố thuộc nhóm tri thức và nhóm sở hữu; mức độ 3 sử dụng tối thiểu hai yếu tố, trong đó có ít nhất một yếu tố thuộc nhóm đặc trưng.

Việc phân định mức độ xác thực tạo căn cứ lựa chọn yêu cầu xác thực phù hợp với tính chất và nhu cầu bảo đảm độ tin cậy của giao dịch. Đồng thời, dự thảo Luật giao bộ, cơ quan ngang bộ quy định mức độ xác thực của giao dịch, thủ tục thuộc phạm vi quản lý nhà nước.

Đối với các trường hợp không thuộc phạm vi này, bên sử dụng dịch vụ quyết định lựa chọn mức độ xác thực phù hợp theo nhu cầu. Quy định này vừa bảo đảm yêu cầu quản lý chuyên ngành, vừa tạo sự chủ động đối với các giao dịch do các bên thực hiện, phù hợp với sự đa dạng của hoạt động trên môi trường điện tử.

Xác định rõ giá trị sử dụng của danh tính điện tử và kết quả xác thực điện tử

Dự thảo Luật quy định giá trị của danh tính điện tử đối với từng nhóm đối tượng định danh. Theo đó, danh tính điện tử của cá nhân, cơ quan, tổ chức có giá trị sử dụng tương đương việc cung cấp, xuất trình giấy tờ, tài liệu có chứa thông tin đó trong thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công, các giao dịch và hoạt động khác.

Danh tính điện tử của đối tượng là địa điểm có giá trị xác định, định vị và phân biệt địa điểm, không gian được định danh trên môi trường điện tử. Danh tính điện tử có giá trị nhận diện, liên kết và tra cứu trong việc khai thác thông tin trên Hệ thống định danh và xác thực điện tử và các hệ thống thông tin khác; là nguồn chứng cứ, tài liệu để giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.

Cùng với giá trị sử dụng của danh tính điện tử, Điều 29 dự thảo Luật quy định giá trị tương ứng của kết quả xác thực điện tử đối với từng nhóm đối tượng.

dinh danh 6.jpg

Đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân, kết quả xác thực có giá trị xác nhận chủ thể danh tính điện tử tham gia giao dịch, thủ tục tại thời điểm xác thực. Đối với đối tượng vật chất và phi vật chất, kết quả xác thực có giá trị xác nhận sự tồn tại của đối tượng và mối liên kết với chủ sở hữu, người quản lý tại thời điểm xác thực.

Đối với sự kiện, giao dịch, hành vi, kết quả xác thực có giá trị xác nhận sự tồn tại hoặc việc ghi nhận gắn với danh tính điện tử của các đối tượng tham gia, thời gian, địa điểm, không gian xác định. Đối với địa điểm, không gian, kết quả xác thực có giá trị xác định sự tồn tại, vị trí và phạm vi tại thời điểm xác định.

Việc phân định giá trị của kết quả xác thực theo từng nhóm đối tượng phù hợp với bản chất của đối tượng, tạo căn cứ áp dụng kết quả xác thực đúng nội dung đã được kiểm chứng.

Quy định điều kiện đối với tổ chức cung cấp dịch vụ định danh, xác thực điện tử

Tại Điều 36, dự thảo Luật quy định tổ chức cung cấp dịch vụ định danh, xác thực điện tử phải được thành lập hợp pháp tại Việt Nam, có tư cách pháp nhân và năng lực tài chính bảo đảm duy trì hoạt động liên tục.

Đồng thời, tổ chức phải đáp ứng các điều kiện về hệ thống kỹ thuật, hạ tầng công nghệ, nhân sự chuyên trách, bảo vệ dữ liệu, ứng phó sự cố, kết nối với Hệ thống định danh và xác thực điện tử và mua bảo hiểm trách nhiệm đối với hoạt động cung cấp dịch vụ.

Việc quy định đồng thời các điều kiện về pháp lý, tài chính, kỹ thuật và nhân sự nhằm bảo đảm chất lượng, tính liên tục của dịch vụ và trách nhiệm của tổ chức cung cấp, phù hợp với tính chất của dịch vụ và giá trị sử dụng của thông tin danh tính, kết quả xác thực.

Ngoài điều kiện chung, dịch vụ định danh phải có quy trình xác minh thông tin, cấp và quản lý danh tính bảo đảm chính xác, toàn vẹn, có khả năng truy vết; có phương án gắn, thể hiện và công bố dấu hiệu nhận biết.

Đối với dịch vụ xác thực, tổ chức cung cấp phải có quy trình tiếp nhận yêu cầu, kiểm tra yếu tố và cung cấp kết quả bảo đảm chính xác, toàn vẹn, không thể phủ nhận và có khả năng truy vết. Những yêu cầu riêng này tương ứng với trách nhiệm của từng hoạt động.

Riêng đối với dịch vụ xác thực dữ liệu trong các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và Hệ thống định danh và xác thực điện tử, điểm a khoản 2 Điều 36 dự thảo Luật quy định tổ chức cung cấp phải là đơn vị sự nghiệp công lập hoặc doanh nghiệp nhà nước đáp ứng điều kiện.

Quy định riêng đối với phạm vi dịch vụ này gắn với yêu cầu bảo đảm độ tin cậy của dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước và các giao dịch, đồng thời duy trì việc áp dụng các điều kiện chung về kỹ thuật, nhân sự, an ninh và bảo vệ dữ liệu.

Tạo cơ sở pháp lý cho việc công nhận danh tính điện tử, kết quả xác thực điện tử xuyên biên giới

Hội nhập quốc tế và sự phát triển của các giao dịch số đặt ra yêu cầu xây dựng cơ chế liên thông, công nhận danh tính điện tử và kết quả xác thực điện tử của nước ngoài. Cơ chế này nhằm tạo thuận lợi cho các giao dịch, đồng thời bảo đảm độ tin cậy và an toàn thông tin.

Theo đó, dự thảo Luật quy định danh tính điện tử do cơ quan, tổ chức nước ngoài tạo lập và kết quả xác thực do cơ quan, tổ chức nước ngoài cung cấp được xem xét công nhận tại Việt Nam khi đáp ứng các điều kiện về mức độ xác thực, tính tương thích với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam và phù hợp với pháp luật Việt Nam.

Đây là nguyên tắc công nhận có điều kiện, kết hợp giữa yêu cầu tạo thuận lợi cho giao dịch và bảo đảm độ tin cậy của thông tin được sử dụng.

2 luat.jpg

Dự thảo Luật cũng phân định thẩm quyền công nhận theo chủ thể và mục đích sử dụng. Theo đó, cơ quan Đảng, Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện công nhận đối với danh tính điện tử, kết quả xác thực do cơ quan, tổ chức nước ngoài cấp để phục vụ hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được giao.

Tổ chức cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử tại Việt Nam quyết định việc công nhận đối với danh tính điện tử, kết quả xác thực do tổ chức không thuộc cơ quan nhà nước nước ngoài cung cấp để phục vụ hoạt động cung cấp dịch vụ của mình. Việc liên thông và công nhận được thực hiện thông qua Nền tảng định danh và xác thực điện tử.

Bên cạnh cơ chế công nhận tại Việt Nam, Điều 39 dự thảo Luật còn quy định Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện hợp tác quốc tế về phát triển, chuyển giao công nghệ, xây dựng tiêu chuẩn chung, đào tạo và trao đổi kinh nghiệm.

Đây là cơ sở thúc đẩy liên thông và phát triển các cơ chế công nhận lẫn nhau với các đối tác phù hợp. Việc công nhận danh tính điện tử, kết quả xác thực điện tử của Việt Nam ở nước ngoài được đặt trong quan hệ hợp tác quốc tế, gắn với tiêu chuẩn và điều kiện công nhận của các bên.

Khuyến khích phát triển hạ tầng, công nghệ và nguồn nhân lực phục vụ định danh, xác thực điện tử

Dự thảo Luật quy định việc áp dụng đồng bộ các cơ chế, biện pháp khuyến khích, ưu đãi, tạo điều kiện thực hiện định danh và xác thực điện tử; ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ, phát triển và ứng dụng công nghệ mới, đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực định danh và xác thực điện tử.

Trong đó, dự thảo chú trọng chính sách ưu tiên tại khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

dinh danh 3.webp

Đáng chú ý, dự thảo Luật quy định Nhà nước có chính sách miễn, giảm phí đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong thời gian 05 năm kể từ ngày Luật có hiệu lực; miễn phí đối với các giao dịch phục vụ thực hiện thủ tục hành chính và nghĩa vụ với Nhà nước.

Đồng thời, dự thảo Luật giao Chính phủ quy định chi tiết các cơ chế, chính sách cụ thể nhằm thúc đẩy, tạo điều kiện cho hoạt động hợp tác quốc tế và khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp đầu tư hạ tầng để thực hiện hoạt động định danh và xác thực điện tử.

Những quy định nêu trên góp phần hình thành cơ sở pháp lý cho việc tổ chức hoạt động định danh, xác thực điện tử an toàn, tin cậy; xác định rõ giá trị sử dụng của danh tính điện tử và kết quả xác thực điện tử; tạo thuận lợi cho các giao dịch trên môi trường số, thúc đẩy hợp tác quốc tế và phát triển hạ tầng, dịch vụ định danh, xác thực điện tử, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia trong giai đoạn mới.

Ban Biên tập

In
Chia sẻFacebook

GÓP Ý DỰ THẢO

Văn bản xem nhiều trong tháng

Bộ công an - trang chính sách, pháp luật về an ninh trật tự

Cổng Thông tin điện tử Bộ Công an

Chính sách, pháp luật về an ninh trật tự

Địa chỉ: 96 Nguyễn Du, phường Cửa Nam, thành phố Hà Nội

Email: bandoc@mps.gov.vn - Website: www.mps.gov.vn hoặc www.bocongan.gov.vn

Bản quyền thuộc về Bộ Công an.

Khi sử dụng lại thông tin, đề nghị ghi rõ nguồn "Cổng Thông tin điện tử Bộ Công an"

BỘ VỚI CÔNG DÂN