
Cảnh báo nguy cơ vi phạm pháp luật trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nước sạch tại tỉnh Hưng Yên
Nước sạch là hàng hóa thiết yếu, trực tiếp liên quan đến sức khỏe, đời sống của Nhân dân và an ninh, an toàn xã hội. Trong bối cảnh nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng, nguồn nước chịu tác động của ô nhiễm, hạn hán, xâm nhập mặn và quá trình đô thị hóa, các doanh nghiệp cấp nước cần nhận diện đầy đủ những hành vi có nguy cơ vi phạm, chủ động khắc phục từ sớm, từ xa, không để sai phạm kéo dài, ảnh hưởng quyền lợi người dân và phát sinh vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự.
14/10/2026
Hiện nay, tỉnh Hưng Yên có 122 nhà máy nước sạch đang hoạt động phục vụ 104 xã, phường; trong đó 120 nhà máy đặt trên địa bàn tỉnh, 02 nhà máy đặt tại thành phố Hải Phòng cấp nước sang một số địa bàn của tỉnh. Cùng với 01 hệ thống mạng lưới cấp nước, tổng công suất thiết kế khoảng 680.000 m³/ngày đêm, bảo đảm phạm vi cung cấp nước sạch tới 100% xã, phường. Quy mô hệ thống lớn đồng nghĩa với trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm xã hội của các đơn vị cấp nước rất cao. Chỉ một sự cố ở khâu khai thác nguồn nước, xử lý, quan trắc, truyền dẫn hoặc công khai thông tin cũng có thể tác động tới số lượng lớn hộ dân. Tình trạng mất nước, thiếu nước, chất lượng nước không bảo đảm tại một số công trình; một số doanh nghiệp chậm sửa chữa, nâng cấp hệ thống, trong khi việc phối hợp cung cấp thông tin cho cơ quan chức năng khi xảy ra sự cố có thời điểm còn chưa kịp thời.
Trước thực tế đó, từ đầu năm 2026 đến nay, Công an tỉnh đã chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra hơn 30 doanh nghiệp, đơn vị cung ứng nước sạch trên địa bàn; đồng thời tuyên truyền, hướng dẫn việc chấp hành các quy định về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, bảo đảm chất lượng nước và an ninh, an toàn hệ thống cấp nước.
Qua kiểm tra, một số đơn vị còn tồn tại, hạn chế như: thực hiện chưa đầy đủ việc kiểm nghiệm chất lượng nước; nguồn nước đầu vào, nước thành phẩm có nơi chưa đạt quy chuẩn; thiếu thủ tục cấp phép, chưa đáp ứng yêu cầu về bảo vệ nguồn nước, quan trắc, xử lý chất thải; chậm khắc phục hạ tầng xuống cấp và báo cáo khi xảy ra sự cố.
Đáng chú ý, một số doanh nghiệp còn có tâm lý coi tiền phạt là chi phí hoạt động, tiềm ẩn nguy cơ vi phạm kéo dài. Tuy nhiên, tùy tính chất, mức độ vi phạm, ngoài xử phạt hành chính, doanh nghiệp còn có thể bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, đình chỉ hoạt động hoặc bị xử lý hình sự nếu có đủ căn cứ theo quy định pháp luật.Thông tư số 52/2024/TT-BYT của Bộ Y tế, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, ban hành QCVN 01-1:2024/BYT và quy định việc nội kiểm, ngoại kiểm, kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt. Theo điểm a, điểm b khoản 1 Điều 4, đơn vị cấp nước phải thử nghiệm định kỳ các thông số nhóm A không ít hơn 01 tháng/lần và các thông số nhóm B không ít hơn 06 tháng/lần (trường hợp đáp ứng điều kiện theo quy định có thể giảm tần suất nhóm B xuống 01 năm/lần).
Điểm c khoản 1 Điều 4 Thông tư số 52/2024/TT-BYT quy định số lượng, vị trí lấy mẫu tăng theo công suất thiết kế hoặc số dân được cấp nước. Ví dụ, đơn vị dưới 1.000 m³/ngày đêm hoặc dưới 6.500 người phải lấy ít nhất 01 mẫu tại bể chứa nước sạch đã xử lý trước khi vào mạng lưới và 01 mẫu ngẫu nhiên tại vòi sử dụng cuối mạng lưới; đơn vị từ 30.000 m³/ngày đêm trở lên hoặc từ 200.000 người trở lên phải lấy ít nhất 01 mẫu tại bể chứa, 03 mẫu ngẫu nhiên trên mạng lưới và lấy thêm mẫu theo phần công suất hoặc dân số tăng thêm.
Điểm d khoản 1 Điều 4 yêu cầu kết quả nội kiểm phải được công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả; nếu không có trang thông tin điện tử thì phải thông báo trước cổng trụ sở tối thiểu 20 ngày. Điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 4 quy định trách nhiệm xác định nguyên nhân, khắc phục, lấy mẫu thử nghiệm lại khi có thông số không đạt; trường hợp sau khắc phục vẫn không đạt phải báo cáo ngay cơ quan có thẩm quyền để xử lý và bảo đảm cấp nước an toàn cho người dân.
Từ ngày 15/5/2026, Điều 15 Nghị định số 90/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định riêng các mức xử phạt đối với vi phạm về chất lượng nước sạch sinh hoạt. Mức phạt tại Chương II của Nghị định là mức áp dụng đối với cá nhân; theo Điều 4, tổ chức có cùng hành vi vi phạm bị phạt bằng 02 lần. Vì vậy, với doanh nghiệp là tổ chức, hành vi cung cấp nước không bảo đảm quy chuẩn có thể bị phạt từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng tùy công suất thiết kế hoặc quy mô người được cấp nước; hành vi thiếu mẫu, không thử nghiệm định kỳ hoặc không công khai kết quả cũng có mức xử phạt tăng dần theo quy mô.
Để bảo đảm hoạt động khai thác, sản xuất và cung cấp nước sinh hoạt tuân thủ đúng quy định pháp luật, đồng thời chủ động phòng ngừa nguy cơ ô nhiễm, sự cố và các hành vi xâm phạm an ninh, an toàn nguồn nước, Công an tỉnh Hưng Yên khuyến cáo doanh nghiệp chủ động tự rà soát, khắc phục:
Một là, rà soát toàn bộ hồ sơ pháp lý về khai thác, sử dụng tài nguyên nước; bảo đảm giấy phép, đăng ký, kê khai còn hiệu lực và hoạt động khai thác đúng nguồn nước, vị trí, mục đích, lưu lượng, chế độ đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép.
Hai là, thực hiện nghiêm nội kiểm chất lượng nước theo Thông tư số 52/2024/TT-BYT; lấy đủ số lượng mẫu, đúng vị trí, đủ thông số, đúng tần suất; lưu trữ hồ sơ thử nghiệm và công khai kết quả đúng thời hạn. Khi có chỉ tiêu không đạt phải lập tức xác định nguyên nhân, khắc phục, lấy mẫu lại và báo cáo theo quy định.
Ba là, thiết lập và duy trì các biện pháp bảo vệ vùng lấy nước sinh hoạt; phối hợp xác định ranh giới, lắp đặt chỉ dẫn, kiểm soát hoạt động trong vùng bảo hộ vệ sinh; chủ động phát hiện hành vi xả thải, đổ rác, hóa chất, vật liệu có nguy cơ gây ô nhiễm.
Bốn là, lắp đặt, vận hành đầy đủ thiết bị quan trắc, giám sát thuộc trường hợp pháp luật yêu cầu; truyền dữ liệu đầy đủ, liên tục, trung thực; tuyệt đối không can thiệp, làm sai lệch số liệu quan trắc.
Năm là, kiểm soát chặt nước thải, hóa chất và chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất; chỉ xả thải khi đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tuyệt đối không bố trí điểm xả trong vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt trái quy định.
Sáu là, duy trì, sửa chữa, nâng cấp hệ thống xử lý, bể chứa, đường ống và các hạng mục xuống cấp; xây dựng phương án cấp nước an toàn, kế hoạch ứng phó với hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, ô nhiễm nguồn nước và sự cố kỹ thuật.
Bảy là, thiết lập đầu mối phối hợp thường xuyên với Công an, chính quyền và cơ quan chuyên môn tại địa phương. Khi phát hiện sự cố ô nhiễm, hành vi phá hoại, trộm cắp tài sản, trộm cắp nước, xả thải trái phép hoặc tình huống có nguy cơ ảnh hưởng an ninh, an toàn nguồn nước, phải thông tin kịp thời, bảo vệ hiện trường và phối hợp xử lý.
Bảo đảm nước sạch không chỉ là yêu cầu về chất lượng sản phẩm mà còn là yêu cầu về an ninh, an toàn của một dịch vụ thiết yếu. Mỗi doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nước sạch cần coi việc tuân thủ pháp luật là điều kiện nền tảng của hoạt động bền vững, thay vì xử lý vi phạm theo hướng đối phó hoặc chấp nhận nộp phạt. Chủ động đầu tư hệ thống, kiểm soát chất lượng, bảo vệ nguồn nước, minh bạch kết quả kiểm nghiệm và phối hợp sớm với cơ quan chức năng sẽ giúp hạn chế sự cố, bảo vệ sức khỏe Nhân dân, giảm nguy cơ khiếu kiện và góp phần giữ vững an ninh, trật tự trên địa bàn.
Thời gian tới, Công an tỉnh Hưng Yên sẽ tiếp tục phối hợp với các sở, ngành, chính quyền địa phương tăng cường nắm tình hình, tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên nước và an ninh, an toàn nguồn nước, đồng thời đồng hành với doanh nghiệp trong việc nhận diện rủi ro, khắc phục sơ hở, thiếu sót, bảo đảm hoạt động cấp nước an toàn, liên tục, đúng pháp luật.
Tin tức mới cập nhật
Tin đọc nhiều trong tuần

Các mức xử phạt vi phạm nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện giao thông
28/01/2025
Công an tỉnh Quảng Trị cảnh báo nguy cơ vi phạm pháp luật đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh khi kinh doanh "hàng giả", "hàng nhái"
12/10/2026




